



















Sự xuất hiện của Phật
Thích Ca trên thế giới loài người là một vinh hiển cho con người và cuộc đời.
Ngài là kết tinh của muôn ngàn hương hoa từ bi và trí tuệ, là điềm lành cho
chúng sanh, là hiện thân của chân lư. Vậy là phật tử hay không là phật tử thiết
nghĩ cũng cần biết sơ lược về lịch sử và những diễn biến lớn của cuộc đời Ngài :
Vị giáo chủ khai sáng Đạo phật.
Niên đại đản sinh
:
Đức Phật đản
sinh nhằm ngày trăng tṛn tháng Vesak của Ấn độ, tức là ngày 15 tháng
Tư âm lịch, năm 624 trước Công Nguyên. Theo thống nhứt thế giới tại Nhật năm 1952 : lấy
ngày nhập Niết bàn làm Phật lịch Vậy phật lịch năm nay
là năm 2553 và Tây lịch năm 2009 c̣n Âm Lịch :
năm Kỷ sửu .
Thân thế và nơi đản sinh
: Thái tử Sĩ Đạt
Ta thuộc giai cấp Sát Đế Lị, gịng tộc Thích Ca, đại quư tộc Ấn độ, con
Hoàng đế Tịnh Phạn và hoàng
hậu Ma Gia. Sau 23 năm kết hôn vẫn chưa có con, một đêm
Hoàng hậu nằm mộng thấy voi trắng sáu ngà đến tặng bà cành hoa từ đó bà mang
thai. Theo tục lệ hoàng hậu trở về kinh đô Davadaha nước Câu Li để sinh
đẻ. Khi đến vườn hoa Lumbini dưới gốc cây Vô
Ưu, đản sinh Đấng
Thế Tôn. Bảy ngày sau, Hoàng hậu Ma Da tạ thế, bà d́ kế mẫu là Ma Ha Ba Xà Ba
Đề trong nôm và nuôi dưỡng Thái tử đến
lúc trưởng thành.
Biểu tướng và tư chất
:
Thái tử có
32 tướng quư và 80 vẻ đẹp, chữ Vạn trước ngực là biểu trưng báo trước thái tử sẽ
xuất gia thành Phật c̣n tại gia sẽ là vị vua trên tất cả vị vua hoàn cầu. Đó là
lời cùa nhà tiên tri A Tư Đà .
Thờ́ niên thiếu : Thái tử là vị thiếu
niên thiên tài bác học đương thời. Năm 16 tuổi vâng lệnh vua cha kết hôn với
công nương Da Du Đà La, 13 năm sau hạ sinh một con trai
là La Hầu La.
Lư do tầm đạo :
Sau khi dạo bốn
cửa thành Thái tử cảm nhận bao nỗi thống khổ của trần gian :
Sinh, Lăo, Bệnh, Tử và
sự bất công, áp bức do giai cấp Bà La Môn Giáo gây ra, từ đó đem ư định từ giả
hoàng gia, dứt t́nh ái với Công nương Yasôddhara và Rahula, vượt thành xuất gia
tu đạo giải thoát, độ ḿnh và độ người đến lúc viên măn. Đúng đêm Mùng 8 tháng 2
lúc Ngài đúng 29 tuổi, cùng hầu cận Xa Nặc đến bờ sông Anoma, cắt
tóc khoác lên vai tấm y vàng thay cẩm bào và nói với Chandaka
: " Chính v́ đêm
tối ta mới đi t́m ánh sáng ". Rồi bao ngày tháng đi khắp đó đây t́m các bậc chân
sư nổi tiếng học đạo. Nhưng Ngài không hài ḷng.
Sáu năm khổ hạnh
: Trên con đường
thiên lư, ngài đến cách rừng gần làng Ouroubilva ( c̣n gọi là Dukarakrya : khổ
hạnh lâm ) nơi có con sông Nairanjani, thuộc vương xá Râdjagriha, gặp năm anh em
: 1-Ajnàta Kaundinya ( Kiều Trần Như ), 2-Asvajit ( A Tháp Bà ), 3-Bhadrika
( Bạt-Đề ), 4-Dasabala Kâsyapa ( Thập Lực Ca Diếp ), 5-Mahânâman ( Ma Ha
Nan ) là đệ tử của đại sư Rudraka và tu khổ hạnh ở đây 6 năm. V́ ép xác tu khổ
hạnh nên kiệt sức và ốm yếu. Tín chủ Sujatâ là con gái của trưởng giả Senani
và bà Nadica, thấy thế mới khuấy sữa với mật ông dâng
lên ngài một bát, độ xong ngài khỏe lại như thường. Năm anh em Kiều Trần Như bỏ
thầy Rudraka theo Ngài nay đă bất b́nh và bỏ đi sang thành Béranlès ẩn tu trong
rừng Mrigadâ ( Lộc Uyển ) ở Rishipatana. Lúc nầy chỉ c̣n một ḿnh Ngài đến cội
Bodhi ( Bồ Đề ) thuộc xứ Goya mà trải cỏ dưới cây ngồi thiền và thệ nguyện rằng
: " Nếu ta ngồi đây mà không t́m ra dạo lư nhiệm mầu, không t́m ra lẽ huyền bí
của vũ trụ vạn pháp, dù thịt nát, xương tan, ta quyết định không rời bỏ chổ ngồi
này ". Suốt 49 ngày thiền định bổng vào ngày cuối, lúc sao Mai vừa xuất hiện rực
rỡ trên bầu trời xanh Ngài cảm nhận bao phiền năo khoảnh khắc rũ sạch : Ngài đă
Giác ngộ ở ngôi vị Đại Giác với danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni ( Cakyamani ). Năm
ấy lúc Ngài 35 tuổi.
45 năm thuyết pháp độ sinh : Đầu
tiên Ngài đến Béranes, bên bờ sông
Nairanjanà, nơi rừng Mrigadâva chuyển pháp
luân độ năm anh em Kiều
Trần Như vớí bài pháp đầu tiên là Bát Chánh Đạo như một
tuyên ngôn
trung đạo kèm theo pháp hànhTứ Diệu Đế, năm Vị này là đệ tử đầu tiên
của Ngài và sau khi hành pháp Tứ Diệu Đế các vị này đều chứng qủa
Thanh văn. Cũng từ đây từ Tam bảo chớm nở và tăng đoàn h́nh thành
vào thời gian này. Tất cả
lời dạy và quy củ cũng như nhũng lời b́nh luận tùy
cơ duyên giáo hoá trong 45 năm,
hơn 500 hội nói pháp
để thành h́nh tam
tạng kinh luật luận sau này.
Đức Phật nhập Niết
Bàn : Đức Thế Tôn đă độ thế viên măn, ngài di
chúc lại cho đệ tử bằng những lời vàng ngọc,
xong Ngài từ giả thành Sravasli
( nay là thành Sateth Maheth ) mà sang thành
Kusinagarâ giữa hai cây Cala
trong cánh rừng dưới
triền núi Hiranyavat và thị
tịch ở đây, lúc Ngài 80 tuổi.