Trở về
Vài giới thiệu về Trống, Chuông, Mõ trong nhà Như Lai tiếp theo bảy phần trước.
Sunday, Apr 17, 2011 5:17 pm
Vài giới thiệu về Trống, Chuông, Mõ trong nhà Như Lai tiếp theo bảy phần trước.
Tiếng trống chùa cũng là một trong những phương tiện của pháp âm nhà Phật để nhắc nhở cho người con Phật luôn sống bằng lòng chân thật, không được giả dối, phải nên tích cực làm việc thiện có ích cho đời, và biết yêu quý, trân trọng cái đẹp trong cuộc sống của mọi người, dựa theo những gì Đức Phật đã làm, mà phát triễn cái tánh giác trong sáng, hay Như Lai Tạng sẵn có trong mỗi người, bằng trí tuệ hiểu biết của chính mình.
Tiếng trống chùa là âm thanh truyền tải giai điệu thuần khiết cho đời sống tâm linh luôn tự kích thích, tự nuôi dưỡng mình, để mãi mãi sống động không ngừng nghỉ, trong đời sống thành tâm tu hành của mỗi người con Phật.
Đức Phật đã nói: "Tâm người như vượn chuyền cây, như ngựa rông nơi đồng nội…" và "Tất cả những gì trong thế gian đã là biến đổi, hư hoại, đều là Vô thường". Hãy thử tự quan sát, tự suy nghiệm ngay cái thân tâm hiện hữu của chính mình đang có trong hoàn cảnh hiện thực, thì sẽ biết và sẽ thấy rõ ràng hơn. 
Vô thường nghĩa là không mãi mãi đứng yên trong một trạng thái nhất định mà luôn luôn thay hình đổi dạng, đi từ trạng thái hình thành đến biến đi rồi tan rã... Tất cả sự vật trong vũ trụ, từ nhỏ cho đến lớn đều phải theo bốn giai đoạn : thành, trụ, hoại, không, cho nên mới gọi chúng là Vô thường.
Trống chùa cũng có nhiều loại, nhiều tên và những cách dùng khác nhau tùy theo nghi thức của các nghi lễ.
Trống con là một loại trống có âm thanh cao, trong trẻo, thanh thoát dùng để điểm nhịp cho người tụng kinh. Nó có một mặt bịt bằng bong bóng lợn, đường kính khoảng 20 cm, tang trống bằng gỗ, cao 5 cm, có một tay cầm 12 cm.
Trống Sấm là một loại trống to có hai mặt, đường kính của mặt trống là 1,50 m, làm bằng da trâu mộng, tang trống cao 1,70 m, làm bằng gỗ mít. Trống này được treo vào giá gỗ sơn son trên đó có hình một con quạ đứng và được dùng trong những lễ cầu đảo.
Trống đại, Trống cái hay Trống lớn là loại trống to có hình dáng như trống sấm, đặt trên giá và thường dùng đánh xen với chuông đồng hay chiêng lớn, trong các đám rước lễ… Âm thanh của nó to, trầm, vang xa.
Trống đại, cũng được gọi là trống ngũ liên, bởi vì người ta xài nó trong đời sống hằng ngày với nhiệm vụ thông báo hay báo động khi có trộm cướp, vỡ đê, hỏa hoạn…
Trống Bát Nhã loại trống lớn, thường thấy treo trong các gác trống chùa. Nghi thức sử dụng Trống Bát nhã, có lẽ xuất phát từ Không Tông, là một nghi thức hành lễ rất trang trọng của Phật giáo Trung Hoa. Trống này dùng để đệm cho một bài kệ “Bát Nhã Hội”, và có nhiều cách đánh khác nhau tùy theo nghi thức của từng môn phái.
Bát Nhã âm Hán Việt dịch từ Prajñā của Phạn ngữ, viết theo mẫu devaganari : प्रज्ञा, và tiếng Pāli viết là paññā.
Prajñā là danh từ ghép từ : Pra + jñā
प्रज्ञा, prajñā_nhóm 2 [thuộc về nữ tính. prajña] có nghĩa là Trí tuệ, quán sát, suy nghĩ phân biệt rõ ràng, thấy được sự biến hóa, hình thành căn bản của muôn loài, để đưa đến trí hiểu biết chân chánh và đúng đắn.
Bảng chia thân từ của प्रज्ञा, prajñā_nhóm 2.
Nữ tính
Số ít
Số hai
Số nhiều
Chủ cách
prajñā
prajñe
prajñāḥ
Hô cách
prajñe
prajñe
prajñāḥ
Cách trực bổ
prajñām
prajñe
prajñāḥ
Cách dụng cụ
prajñayā
prajñābhyām
prajñābhiḥ
Cách gián bổ
prajñāyai
prajñābhyām
prajñābhyaḥ
Cách tách ly
prajñāyāḥ
prajñābhyām
prajñābhyaḥ
Cách sở hữu
prajñāyāḥ
prajñayoḥ
prajñānām
Cách vị trí
prajñāyām
prajñayoḥ
prajñāsu
 
Đặc tính của Bát nhã :
- Thật tướng Bát nhã là Chân Tánh.
- Danh tự Bát nhã là Chân tướng.
- Vị thế Bát nhã là Chân thường.
- Dụng (khởi) Bát nhã là Trí Tuệ.

Trống Bát nhã thường đánh lên vào những buổi lễ pháp sự đặc biệt, như thuyết pháp, truyền giới, Sám hối…


Cách đánh Trống Bát-nhã và ý nghĩa biểu trưng:
Mới đầu đánh nhập 2 tiếng: Mời đại chúng : Tăng, Ni và Phật tử nhập lễ.
Đánh 3 tiếng, mỗi lần 1 tiếng: tượng trưng cho sự cúi đầu quy y TAM BẢO, nguyện dứt trừ tam độc : tham, sân si.
Đánh 7 tiếng tượng trưng cho BÁT NHÃ HỘI THỈNH PHẬT THƯỢNG ĐƯỜNG, tức tác pháp thỉnh Phật thăng toà.
Đánh 8 tiếng tượng trưng cho câu “ Maha Prajnaparamita | MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA” hoặc BÁT NHÃ HỘI THỈNH PHẬT LAI CHỨNG MINH, tức tác pháp thỉnh Phật chứng minh.
Cuối cùng đánh dứt 4 tiếng tượng trưng cho chứng nhập TỨ ĐẾ.
 
Còn tiếp
Kính bút
TS Huệ Dân
Bài này đã đọc 2103 lần
Chưa có bình luận
Viết bình luận
* Tên
* Email (cộng đồng không xem được hộp thư tác giả)
*
* Điền những mã kiểm chứng
* - Tất cả các ô trống phải điền hết