Giáo lư nguyên thủy Phật giáo

Sau 6 năm tu khổ hạnh ở chốn rừng già, và 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới cội cây bồ đề, tại Bodh Gaya, tâm trí thanh tịnh. Thái Tử Sĩ Đạt Đa đă đắc đạo thành Phật. Ngày Người thành Phật là ngày của một chân lư bất diệt soi sáng khắp thế gian ra đời, đă xua tan đi những nỗi đau chất chồng trong nhân loại, và giúp cho con người xích lại gần nhau hơn bằng t́nh yêu thương trải rộng. Ngày Người thành Phật cũng là ngày chúng sinh xuất hiện trong tim những hạt giống Bồ Đề, kể từ đó hạt giống từ bi, ngày một lan xa và luôn sống măi trong ḍng thời gian.

Sau khi ngộ đạo, Đức Phật quán sát nhân duyên, xem ḿnh nên độ ai trước? Người trên thế gian rất nhiều? Ngài dùng trí tuệ Diệu quan sát trí để quán sát. Sau đó Ngài đến vườn Lộc Uyển độ năm anh em ông Kiều Trần Như. Năm người này chuyên môn phá hoại, hủy báng, ăn hiếp, lúc th́ đánh Phật, lúc th́ chửi Phật, có lúc lại đ̣i ăn thịt Phật trong thời gian khi Đức Phật Thích Ca c̣n đang hành đạo bồ tát. Ngài không sân hận, mà c̣n phát nguyện rằng : Nếu như sau này có thể thành Phật, ta phát nguyện nhất định phải độ các người trước!  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói con người do cái khổ triền miên kết tập từ lâu đời nên phải chịu trong ṿng luân hồi, sanh tử. Quan sát cái khổ và nguyên nhân phát sinh ra khổ để tận diệt th́ những mầm mống khổ, những ư niệm sai lầm cũng tiêu tan, tức là ta đă t́m cách diệt được nguyên nhân của khổ. Một khi cái khổ không c̣n th́ con đường đạo sẽ rộng mở thênh thang, để chúng ta ung dung tự tại đi tới cứu cánh của đạo giải thoát.

Trong pháp bốn đế của Ngài có chia ra hai phạm vi : thế tục và xuất thế. Khổ và Tập thuộc về tục đế, c̣n Diệt và Đạo thuộc về thánh đế.

Pháp bốn đế tóm lược như bảng dưới đây :

Khổ đế (Phạn ngữ : duḥkhāryasatya), là chân lư về sự Khổ : Chân lư thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ năo, không trọn vẹn. Sinh, lăo bệnh, tử, xa ĺa điều ḿnh ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (Phạn ngữ : pañcaskandha, Pali : pañcakhandha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.

Tập đế (Phạn ngữ : samudayāryasatya), là chân lư về sự phát sinh của khổ: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, Ái (Phạn ngữ : tṛṣṇā, Pali : taṇhā), t́m sự thoả măn dục vọng, thoả măn được trở thành, thoả măn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (Phạn ngữ, Pali : saṃsāra).

Diệt đế (Phạn ngữ : duḥkhanirodhāryasatya), là chân lư về diệt khổ: Một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt th́ sự khổ cũng được tận diệt.

Đạo đế (Phạn ngữ : duḥkhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya), là chân lư về con đường dẫn đến diệt khổ : Phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường Bát Chánh Đạo và chia thành 3 nhóm (Tam vô lậu học, 3 nhóm học để diệt trừ phiền năo).

Bát Chánh Đạo bao gồm có 8 yếu tố chân chánh như sau :

Chính kiến (Pali : sammā-diṭṭhi, Phạn : samyag-dṛṣṭi) : Ǵn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lư vô ngă.

Chính tư duy (Pali : sammā-saṅkappa, Phạn : samyak-saṃkalpa) : Suy nghĩ hay có một mục đích đúng đắn, suy xét về ư nghĩa của bốn chân lư một cách không sai lầm.

Chính ngữ ( Pali : sammā-vācā, Phạn : samyag-vāk) : Không nói dối hay không nói phù phiếm.

Chính nghiệp (Pali : sammā-kammanta, sa. samyak-karmānta) : Tránh phạm giới luật.

Chính mệnh (Pali : sammā-ājīva, Phạn : samyag-ājīva) : Tránh các nghề nghiệp liên quan đến sát sinh (giết hại sinh vật) như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện.

Chính tinh tiến (Pali : sammā-vāyāma, Phạn : samyag-vyāyāma) : Phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu.

Chính niệm (Pali : sammā-sati, Phạn : samyag-smṛti) : Tỉnh giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ư.

Chính định ( Pali : sammā-samādhi, Phạn : samyak-samādhi) : Tập trung tâm ư đạt bốn định xuất thế gian (sa. arūpa-samādhi).

Tam học,  là 3 nhóm tu học : Giới (Phạn : śīla, Pali : sīla), gồm có Chánh ngữ, Chánh nghhiệp, Chánh mạng. | Định (Phạn : samādhi, dhyāna, Pali : samādhi, jhāna), gồm có Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. | Huệ (Phạn : prajñā, Pali : paññā), gồm có Chánh kiến, Chánh tư duy.

Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh (Phạn ngữ : avidyā, Pali : avijjā).

Một đời sống tốt đẹp không phải chỉ do gắng công cải thiện các yếu tố ngoại vi liên quan đến xă hội và thiên nhiên, mà cần phải phối hợp với sự tu tập và cải thiện bản thân bên trong như : Không làm điều ǵ gây đau khổ cho ḿnh và cho người khác. |Nuôi dưỡng điều thiện tạo an vui cho cá nhân và cho mọi người. | Thanh lọc tâm ư, loại trừ những bợn nhơ của tham lam, sân hận, và si mê.

Con đường Bát Chánh Đạo c̣n được gọi là Trung Đạo, v́ đây là một đường lối thăng bằng, không có những cực đoan của sự hành hạ xác thân hoặc nô lệ dục lạc, tham vọng. Đây là con đường duy nhất để giác ngộ giải thoát và Con Đường Trung Dung (Trung Đạo) này do chính Đức Phật đă giảng trong bài pháp đầu tiên tại vườn nai sau ngày thành đạo. Những ai đang đi trên con đường này, Đức Phật dạy : lấy tri thức và trí tuệ làm ch́a khóa đứng đầu. Trí tuệ chỉ có thể được khai phát qua hành tŕ thiền quán. Người tu tập cần phải chiêm nghiệm thâm sâu vào nội tâm, để trạch vấn và thông hiểu cho chính ḿnh. Các nguyên tắc của đạo Phật là phải tự ḿnh chứng ngộ, chứ không phải những giáo điều để mù quáng tin theo.


Tứ Diệu Đế của Đức Phật dạy là những lời dạy của một vị thầy thuốc định bịnh (Khổ đế), xác định nguyên nhân của bịnh (Tập đế), diễn tả trạng thái khi lành bệnh (Diệt đế), cách thức trị bịnh (Đạo đế). Đạo Phật là những hướng dẫn để chúng ta thực hành, tu tập thanh lọc tâm ư, để chúng ta thấy được lợi ích qua kinh nghiệm thực tế của chính bản thân trong đời sống hằng ngày. Đức Phật đă từng dạy rằng: “Giáo pháp của Như Lai được giảng rơ ràng, để thực chứng với kết quả hiện tiền, vượt thời gian, mời mọi người đến xem, đưa đến giải thoát, được người trí thông hiểu, tự mỗi người phải thực hiện cho chính ḿnh”.

Kính bút
TS Huệ Dân

Trở về